Flour là vi chất cần thiết cho xương và răng

Fluor có ảnh hưởng tới một số chức phận và hệ thống trong cơ thể. Khi thiếu fluor thì sẽ gây bệnh sâu răng nhưng khi thừa fluor sẽ gây rối loạn chuyển hóa photpho – canxi dẫn tới xốp xương.

Flour là vi chất cần thiết cho xương và răng

Vai trò của Fluor

Vitamin và các chất khoáng là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ em. Trẻ có sức khỏe bình thường, được bú mẹ và ăn uống đầy đủ sẽ không bị thiếu vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, trong một số trường hợp như trẻ sinh non, sinh đôi, trẻ lớn quá nhanh, chất lượng bữa ăn không bảo đảm, không được bú sữa mẹ, bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, rối loạn hấp thu, mắc các bệnh về gan, mật… sẽ bị thiếu vitamin và chất khoáng.

Theo chuyên gia của Viện Dinh dưỡng, Fluor là vi chất dinh dưỡng tham gia vào quá trình phát triển răng, tạo ngà răng và men răng. Fluor còn giữ vai trò quan trọng trong quá trình tạo xương và có ảnh hưởng đến sự điều hòa chuyển hóa canxiphotpho. Trong cơ thể lượng fluor tập trung cao nhất ở xương và răng. Quá trình tích chứa fluor ở răng xảy ra lúc còn bé, trong thời kỳ hình thành và phát triển các răng vĩnh viễn.

Fluor có ảnh hưởng tới một số chức phận và hệ thống trong cơ thể. Khi thiếu fluor thì sẽ gây bệnh sâu răng nhưng khi thừa fluor sẽ gây rối loạn chuyển hóa photpho – canxi dẫn tới xốp xương. Nhiều tài liệu còn cho thấy lượng fluor cao có ảnh hưởng đến chuyển hóa glucid và lipid. Các hợp chất fluor ức chế hoạt động tuyến giáp. Fluor có đặc điểm là giới hạn thích hợp hoạt động sinh học của nó. Như vậy thừa hay thiếu fluor đều có hại cho cơ thể.

Thừa Fluor thường xuất hiện ở những vùng có lượng cao fluor trong đất và nước như ở những vùng có núi lửa đang hoạt động hoặc vùng có mỏ fluor apatit. Thường gây hiện tượng nhiễm độc fluor. Biểu hiện bệnh là các vệt bẩn mầu trắng hay hơi vàng ở men răng, kích thước các vệt này to dần, chuyển dần từ mầu xẫm sang vàng. Trên men răng xuất hiện các rãnh bờ bị ăn mòn làm răng trở lên dễ vỡ. Bênh chỉ gây tổn thương ở các răng vĩnh viễn.

Ngoài ra ở các vùng công nghiệp sử dụng fluor vào kỹ nghệ sản xuất (như kỹ nghệ sản xuất nhôm, magiê, ximăng, phân bón…), các chất thải bỏ của nhà máy super – photpho cũng làm tăng lượng fluor trong không khí, đất và rau quả tại đó. Nhiễm độc fluor mạn ngoài việc gây ra các biến đổi răng còn gây ra những rối loạn chuyển hóa photphat canxi làm cho xương biến dạng, dễ gẫy.

Thiếu Fluor: Khi lượng fluor trong nước dưới 0,5mg/l xảy ra các biểu hiện thiếu fluor, đặc biệt là sâu răng. Người ra thấy lượng fluor ở răng sâu thấp hơn nhiều ở răng bình thường, vì thế độ bền vững của chúng đối với tác dụng của axit hữu cơ hòa tan giảm xuống. Mối liên quan đảo ngược trong nước uống và sâu răng đã được xác định rõ. Fluor làm giảm sâu răng ở trẻ em từ 20 – 40% nhưng không loại trừ được sâu răng vì còn có vai trò của các loại đường. Vấn đề vệ sinh răng miệng cũng ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển sâu răng. Tuy vậy vai trò dự phòng của fluor là không thể phủ nhận.

Hàm lượng Fluor trên 100g thực phẩm ăn được

Khoai lang

862mcg/100g

Cà chum

50mcg/100g

Khoai tây

50mcg/100g

Cà rốt

61mcg/100g

Bột mỳ

53mcg/100g

Hành tây

12mcg/100g

Đậu tương

1470mcg/100g

Chuối tiêu

23mcg/100g

Cá thu

150mcg/100g

Bưởi

25mcg/100g

Cá trích

160mcg/100g

Dưa chuột

20mcg/100g

Nấm mỡ

31mcg/100g

Súp lơ

12mcg/100g

Phòng bệnh

Ở nơi nhiều fluor thì cần hạn chế sử dụng nguồn nước nhiều fluor, thực hiện biện pháp bảo vệ không khí ở những vùng công nghiệp phát triển. Lượng fluor trong thực phẩm thấp thư kém hơn fluor trong nước nhưng chế độ ăn vẫn cần cân đối về canxi – photpho cũng như phối hợp thêm vitamin D

Ở nơi có ít fluor, nên thêm fluor vào nước ăn, sử dụng nhiều thực phẩm có hàm lượng fluor cao, có thể thêm vào nước ăn lên tới 1 – 1,2mg/l. Ngoài fluor, nếu thiếu vitamin A – D và suy dinh dưỡng protein năng lượng có liên quan đến sự giảm sản men răng, sự teo tuyến nước bọt giảm khả năng tiêu hóa tinh bột đường cũng khiến cho răng dễ bị sâu hơn. Như vậy ngoài việc chú ý đến lượng fluor còn cần quan tâm đến các điều kiện sống vệ sinh, đảm bảo một chế độ ăn hợp lý để cung cấp đầy đủ vitamin và protein.

Các vitamin có trong rau, củ, quả và thực phẩm hàng ngày có đóng góp một phần không nhỏ tới sức khỏe răng của trẻ. Một chế độ ăn đầy đủ các khoáng chất thiết yếu, có lợi cho răng sẽ giúp trẻ em có được hàm răng chắc khỏe mỗi ngày.

Vitamin C có nhiều trong các loại thực vật, rau, củ, quả như rau ngót, đu đủ, nhãn, bưởi… Ngoài công dụng tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, vitamin C còn giúp chống nhiễm khuẩn chân răng, tăng sức khỏe cho răng.

Vitamin D có nhiều trong gan động vật, trái cây và ánh nắng mặt trời. Ngoài công dụng trị bệnh còi xương, vitamin D còn rất cần thiết cho trẻ em chậm mọc răng.

Vitamin E có nhiều trong các loại dầu thực vật như dầu mè, dầu đậu nành và trong một số loại rau củ như rau dền, củ su hào… Vitamin E cũng đóng góp một phần vào sự duy trì sức khỏe răng.

Trường hợp cho trẻ dùng thuốc đúng chỉ định của bác sĩ để tránh các biến chứng xấu do dùng quá liều. Điều này là vô cùng quan trọng. Thiếu vitamin và khoáng chất đã không tốt cho sức khỏe, nhưng nếu thừa thì nguy hiểm không kém. Trong trường hợp trẻ phải dùng thuốc dài ngày, dùng liều cao hoặc dùng các chế phẩm có quá nhiều thành phần vitamin và chất khoáng trong một viên thuốc, cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa nhi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *